3 giới hạn trong nghệ thuật lành mạnh hoá năng lượng cho ngôi nhà


Người ta đã thực hiện nhiều cuộc nghiên cứu trong lĩnh vực địa sinh học, môn học chuyên về mối quan hệ giữa năng lượng của đất và của vũ trụ, cũng được gọi là năng lượng thiên-địa và con người (thiên địa nhân). Phần lớn ca nghiên cứu đã đem lại một lợi ích to lớn cho khoa học nhưng thường ít có giá trị trong sự ứng dụng thực tiễn. Chúng thường cô đọng trong phân tích cực kỳ tỉ mỉ và chính xác “bản chất” của năng lượng xấu hiện hữu trong môi trường. Người ta đã cố gắng định nghĩa, phải chăng những cảm giác về sự mệt mỏi biểu lộ bởi người cư trú trong các môi trường ấy là do sự hiện hữu của các năng lượng đó. Nhưng mà, điều quan trọng không phải là trình bày bản chất các năng lượng, điều này thuộc một lĩnh vực quan trọng và chứa đựng vô số khả năng đa dạng mà ta sẽ nghiên cứu ở phần sau. Nếu người ta chỉ dừng lại để suy nghĩ về sự tồn tại các năng lượng tự nhiên và năng lượng do người tạo ra, như điện, từ tính, điện từ, phóng xạ, phát xạ nơ-tron, siêu âm, v.v…và hiểu rằng lĩnh vực này vô cùng bao la mà một sự tiếp cận dựa trên sự cố gắng để kiểm soát các năng lượng độc hại của trời-đất và của người tạo ra, thì không thể đưa ta đi thật sâu được.

Nhiều dụng cụ được dùng để kiểm soát các năng lượng đó, nhưng theo tôi, không mấy kết quả. Một giải pháp được dùng là đặt dưới giường các tấm thảm đặc biệt hay các chất hút plat-ma nghẽn. Chẳng hạn thảm bằng kim loại có pha plát tít để ngăn chặn nghẽn mà không thải bỏ chúng được. Nghẽn được nhốt lại, nhưng sau vài ngày vận hành, thảm không thể loại bỏ chất nghẽn đã hút được trở thành tồi tệ thêm. Thảm làm bằng xơ dừa hay than bùn (tourbe) hút được và làm lệch phần nào các gút, nhưng giá rất đắt.

Tiếp đến là thứ thảm chặn được nghẽn và được xả ra qua thiết bị điện có dây cắm đất, tuyệt đối không nên dùng. Trong trường hợp này, tốt hơn là không nên cho chạy thiết bị đó vì khi nó chạy chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, nó sẽ làm nghẽn trước tiên là căn phòng rồi đến căn hộ và cuối cùng toàn bộ toà nhà! Ðó là thí nghiệm tự tôi đã làm khi bắt đầu cuộc nghiên cứu và điều đó đã khiến tôi tạo ra cái “máy” hút tất cả các nghẽn tụ đọng trong thiết bị điện. Một khả năng khác là thải bỏ trong các ống nước hay máy sưởi, nhưng giải pháp này vẫn không kết quả như đã dẫn trên. Trong sách này, ta học cách tạo ra những dụng cụ thật đơn giản có thể giúp làm sáng tỏ các khái niệm này. Người ta có thể thải bỏ nghẽn ra ngoài bằng thiết bị làm tiêu tán (dissipateur). Ðây là giải pháp có giá trị nhưng bất tiện và rất tốn kém.

Máy làm tan khí nghẽn

Máy làm tan khí nghẽn

A là một thiết bị hút chất nghẽn, C là dây cáp để dẫn tới D, thiết bị làm tiêu nghẽn bên ngoài. Ðể cho máy này làm việc hữu hiệu nó phải có kích thước không nhỏ hơn 30 x 40 x 20 cm và rất nặng. Nó phải được gắn chặt vào tường để không bị gió cuốn đi rớt vào đầu người đi đường bất hạnh! Nó không giản tiện chút nào bởi dây chuyền chất nghẽn từ trong ra ngoài phải thật to và cách ly thật tốt, nhất là về phương diện tinh tế, nếu không nó lại nhiễm căn phòng hay ai đó lỡ chạm vào nó. Ngoài ra, cửa sổ phải được khoét sao cho có thể đưa dây cáp ra nối với thiết bị bên ngoài. Một số giải pháp khác được gợi ý, chẳng hạn như đặt một tấm chắn dưới giường với rất nhiều bất tiện, bất khả thi. Trước tiên các năng lượng một khi bị làm trệch ra giường, chúng liền tạo ra plat-ma độc hại lan toả ra khắp phòng. Thứ đến là không chỉ có năng lượng gây bệnh có nguồn gốc từ đất mà còn có năng lượng tồn tại trong không gian (nghẽn sinh học). Với trường hợp này, người ta phải dùng tấm chắn đặt trên và dưới giường.
Một số công nghệ khác dựa trên điện tử bao gồm phóng ra tần số làm thăng bằng các tế bào bị kích thích bởi bức xạ thiên địa. Bài toán thiết bị điện tử nằm ở chỗ bất luận các loại năng lượng nặng nào đều gây ra khí nghẽn, nhất là loại có nguồn gốc điện từ, và vì thế bất cứ thiết bị điện tử nào cũng đều gây ra chất nghẽn bởi vì dao động điện từ mà nó tạo ra. Có thể tạo ra bức xạ điện từ có tác động tích cực trên plat-ma độc hại, nhưng chỉ với kỹ thuật chuyển vị nguyên tố tinh tế (transmutation subtile).

Còn có nhiều công nghệ khác (vòng xoắn kim loại, kim thự tháp, mạch, ký hiệu, v.v…) thường đều phỏng theo nguyên lý ra-đi-ô-nít (radionique). Mục tiêu của radionique là chẩn đoán và chữa trị bệnh nhân từ xa, thông thường nhờ vào các thiết bị thích hợp sử dụng vật chứng hay còn nhờ vào các mạch thu góp năng lượng xấu. Một số kiểu máy radionic có thể phân tích bệnh trạnh hay các trạng thái mất cân bằng khác, nhờ thế cung cấp các số liệu, cũng được gọi là tần số cho người sử dụng. Tác động từ xa được thực hiện nhờ vào nguyên lý của sự cộng hưởng thể khí (résonance éthérique). Vật chứng thông thường là một mẫu sinh học của bệnh nhân (máu, nước tiểu, nước bọt, móng tay, v.v…). Ngay khi các hệ thống năng lượng của người thao tác radionic và của bệnh nhân có sự cộng hưởng (en syntonie), thông qua vật chứng, người này thao tác để thay thế năng lượng tinh tế bệnh hoạn bằng một năng lượng kích thích sự tái lập cân bằng và làm lành bệnh. Về việc lành mạnh hoá ngôi nhà, nguyên lý cũng như thế.

Cộng hưởng giữa người thao tác radionic và bệnh nhân

Cộng hưởng giữa người thao tác radionic và bệnh nhân

Kỹ thuật radionic cũng bộc lộ một vài điều lợi và nhiều điều bất lợi. Ðể hiểu sâu chúng, ta cần nghiên cứu bản chất của những thiết bị và những mạch đó. Các nhà thao tác của môn học này biết rất rõ rằng tùy theo kiểu dáng và nhất là tùy theo cách sử dụng, 2 máy khác nhau, hay cùng một máy sẽ cho trị số hay tần số khác nhau. Thực sự, những giải pháp như thế không có mục tiêu gì và chỉ được dựa trên niềm tin của người thao tác về sự hiệu lực của chúng. Dù sao, radionic vẫn thường vận hành. Ðiều ưu việt chính của nó là ở chỗ tác động của liệu pháp có thể xảy ra dù không có người thao tác và điều này có thể có ích. Ta hãy xem xét những bất lợi. Tôi còn nhớ trong quá trình các thí nghiệm của tôi với các mạch radionic, tôi cảm thấy hữu ích và lý thú khi phó thác một phần việc điều trị một bệnh nhân cho một hình 10 cạnh (décagone) đơn giản. Kế tiếp tôi thử nghiệm việc sử dụng mạch không chỉ cho một người nhưng cho nhiều bệnh nhân cùng một lúc. Từ bệnh nhân thứ 40 trở đi, tôi nghiệm thấy có vài hiệu ứng không hay. Thí dụ mức năng lượng của tôi bất chợt tuột xuống mỗi lần tôi mở mạch. Tôi liền khám phá thật nhanh rằng chakra (chakra) gốc của tôi hoàn toàn cạn kiệt và tôi cảm thấy kiệt sức.

Trong khi tìm tòi nguyên nhân, tôi thấy thực tế máy radionic vận hành nhờ vào năng lượng của người thao tác chứ không phải nhờ vào tự thân nó. Những nhà thao tác thường không chú ý tới hiện tượng này. Máy radionic là một dụng cụ mà thông qua nó, xuất hiện mối liên hệ thể khí giữa thầy thuốc và bệnh nhân, đó là nền tảng của
mọi liệu pháp năng lượng. Xuyên qua sự nối kết đó, năng lượng nghẽn của bệnh nhân (hay của ngôi nhà) vì thế lây truyền qua thầy chữa. Ngoài ra, máy radionic chỉ vận hành khi được hoạt hoá bởi ý muốn của người thao tác. Chẳng hạn một mạch như hình 10 cạnh, sẽ ngừng chạy nếu người thao tác quên nó. Vì thế, cần thiết mỗi ngày hay mỗi 2 ngày nó phải được sờ nắm và được hoạt hoá bởi ý muốn của người thao tác.

Tất cả máy radionic (và nói chung là tất cả máy móc thuộc năng lượng tinh tế không chuyển vị nguyên tố) có xu hướng bị tắc nghẽn với thời gian, nghĩa là chúng tích tụ đầy năng lượng độc hại. Ðiều này xảy ra vì 2 lý do : vì là cực góp và tích tụ năng lượng xấu, chúng có xu hướng làm tản mạn năng lượng tinh khiết và tích tụ năng lượng nghẽn. Ta sẽ nghiên cứu ở phần sau đặc tính này của năng lượng tinh tế. Ngoài ra, như tôi đã nói ở phần trước, máy hay mạch là những kết nối thể khí với bệnh nhân có một thể năng lượng hết sức tắc nghẽn theo giả định, (nếu không thì không phải là bệnh nhân). Một khi thiết lập được kết nối rồi thì chất nghẽn của bệnh nhân có xu hướng trút vào người thao tác và tạo ra mối hiểm nguy cho sức khoẻ của họ.

Tất cả các lý lẽ đó làm cho tôi chùn bước đi theo liệu pháp radionic để chữa trị nơi cư trú và tìm lối đi khác. Trước hết, điều đó đã làm cho tôi xác định cái đáng kể, không chỉ là sự việc bố trí một căn hộ hay một ngôi nhà có nằm trong phạm vi ảnh hưởng của một phay hay một luồng nước ngầm hay cái khác là đủ mà còn phải xem xét tới sự hiện hữu của năng lượng ở đó có tốt hay độc hại đối với người cư trú hay làm việc ở đó hay không. Nói cách khác, quy tắc chủ yếu là nguyên lý đơn giản của cái “tốt, không tốt”. Sự tiếp cận nhằm hủy bỏ hay giảm thiểu một số loại năng lượng độc hại là để có một hiệu ứng giới hạn chế ít nhất. Sự gò bó đầu tiên vì thế sẽ là phương pháp học được dùng trong liệu pháp thực sự cho ngôi nhà. Những dụng cụ dựa trên sự kiểm soát năng lượng độc hại phần lớn đều ít có kết quả, một số lại còn nguy hiểm và trong mọi trường hợp chúng không giải quyết được vấn đề.

Biên soạn: Nguyễn Minh Trí – DS. Lê Văn Giàu

About Aloha Nguyen

I'm from vietnam and I like travel

Posted on 09/07/2013, in Lành mạnh hoá ngôi nhà - Phần I, Tài liệu nghiên cứu. Bookmark the permalink. Để lại bình luận.

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: